Phát triển văn hóa đọc của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Thứ năm - 21/01/2021 21:12
Văn hóa đọc là yếu tố tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo, giáo dục của các trường đại học. Vì vậy, phát triển văn hóa đọc là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đối với Trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói riêng và với các trường đại học trong cả nước nói chung. Tuy nhiên, phát triển văn hóa đọc đối với trường Đại học Nội vụ Hà Nội hiện nay vẫn là hiện thực còn khá nhiều bất cập, tìm kiếm các giải pháp đồng bộ cho vấn đề này là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao.
73322579 1509721529166076 8082412827916107776 n
 
Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh, Phó Trưởng khoa Khoa Pháp luật hành chính. 

1. Quan niệm và thành tố văn hóa đọc của sinh viên
1.1. Quan niệm về văn hóa đọc của sinh viên
Văn hóa đọc là một bộ phận của văn hóa. Vì vậy, để hiểu về văn hóa đọc trước hết cần làm rõ khái niệm về văn hóa – một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, thì: "Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử"[8]. Một quan điểm khác lại cho rằng: Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v... Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa . Không hoàn toàn đồng nhất các quan niệm trên, một quan điểm khác cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [5, tr.12]. Trên cơ sở những định nghĩa trên, chúng tôi cho rằng “văn hóa có thể được hiểu là những hoạt động sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần của loài người, xuất phát từ những nhu cầu của con người và làm thỏa mãn những nhu cầu đó”. 

Khi chữ viết ra đời, con người bắt đầu có nhu cầu đọc chữ. Gắn liền với quá trình phát triển của con người, đọc sách được nâng nên thành một thứ văn hóa gọi là văn hóa đọc. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, khái niệm văn hóa đọc vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau. Trong giới thư viện học quốc tế, văn hóa đọc được hiểu như là một bộ phận trong văn hóa theo nghĩa rộng của mỗi cá nhân, bao gồm một tổ hợp các thói quen làm việc với sách từ việc chọn lựa có ý thức về đề tài, tính hệ thống và tính kế thừa, kỹ năng tìm các tài liệu cần thiết với sự giúp đỡ của các ấn phẩm thư mục, sử dụng bộ máy tra cứu, định hướng trong tài liệu với mục đích lĩnh hội tối đa và cảm thụ sâu sắc những gì đã đọc, đến việc áp dụng những nội dung lĩnh hội qua đọc các lĩnh vực hoạt động của mình, làm phong phú thêm đời sống [6, tr.43-37].

Văn hóa đọc được hiểu cả ở nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, văn hóa đọc được hiểu là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. Văn hoá đọc là sự hợp thành của ba yếu tố, ba vòng tròn giao nhau, đó là (1) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước; (2) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội; (3) ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân trong xã hội. Còn ở nghĩa hẹp, văn hóa đọc là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, được thể hiện ở ba yếu tố, ba vòng tròn giao nhau, đó là (1) thói quen đọc; (2) sở thích đọc; (3) kỹ năng đọc [7, tr.19-26]. Như vậy, về cơ bản, khái niệm văn hoá đọc dù ở nghĩa rộng hay hẹp đều có nội hàm như nhau, sự khác nhau ở đây là các nhóm đối tượng tác động. Tiếp cận dưới một góc nhìn văn hóa đọc lại được quan niệm “ là một hoạt động văn hóa của con người, thông qua việc đọc để tiếp nhận thông tin và tri thức. Đó là sự tích hợp của các yếu tố như nhu cầu đọc, thói quen đọc và biểu hiện qua hành vi, tập quán đọc của cá nhân và cộng đồng” [3, tr.17-25].

Từ những nghiên cứu và quan điểm như trên, tác giả cho rằng: Văn hóa đọc của sinh viên là những giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân đang học trong các trường đại học, cao đẳng thông qua nhu cầu đọc, thói quen và sở thích đọc, kỹ năng đọc và chuẩn mực ứng xử với tài liệu của bản thân cá nhân đó.

 
82372490 1225402971182244 1968914614527721472 o

1.2. Các thành tố văn hóa đọc của sinh viên
Văn hóa đọc không những được thể hiện ở số lượng đọc mà còn được thể hiện ở chất lượng đọc. Trên cơ sở định nghĩa về văn hóa đọc nhóm nghiên cứu đã xây dựng ở trên cho thấy văn hóa đọc của sinh viên bao gồm các thành tố như sau: Nhu cầu đọc, thói quen và sở thích đọc, kỹ năng đọc và chuẩn mực ứng xử với tài liệu. Trong đó:

Nhu cầu đọc là thái độ của chủ thể với việc đọc, là đòi hỏi khách quan của người đọc đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các hoạt động sống của con người. Nhu cầu đọc xuất phát từ yêu cầu của hoạt động sống và là nguồn gốc hoạt động của thư viện. Bởi thư viện là nơi lưu trữ và truyền tải tri thức tới người đọc thông qua vốn tài liệu các hoạt động phục vụ bạn đọc. Các thư viện không thể tồn tại và phát triển được ở những nơi không có nhu cầu đọc. Nhu cầu đọc bắt nguồn từ yêu cầu của các hoạt động khác nhau trong đời sống của mỗi cá nhân và chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện xã hội. Do đó, nhu cầu đọc biểu hiện thái độ nhận thức, sự cảm thụ của người đọc. Người đọc thông qua việc đọc nhận thức, cảm nhận, thưởng thức giá trị thẩm mĩ, thấu hiểu tư tưởng nhân văn của tác phẩm. Nhu cầu đọc cũng chịu sự chi phối tác động của tâm lí chủ thể và môi trường xung quanh. Nhu cầu đọc xuất hiện khi người đọc coi nó như một hoạt động sống không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của họ và nó được duy trì ổn định ở những người có đời sống tinh thần phát triển cao. Nhu cầu đọc nếu được đáp ứng đầy đủ, thường xuyên thì sẽ ngày càng phát triển. Tuy nhiên, nếu nhu cầu đọc không được đáp ứng lâu dần cũng sẽ trở lên suy giảm và biến mất. Bởi lẽ đó, để duy trì nhu cầu đọc của con người, cần tăng cường thúc đẩy hoạt động đọc.

Yêu cầu đọc là biểu hiện cụ thể của nhu cầu đọc. Người đọc khi xác định được đối tượng tài liệu cụ thể đáp ứng được nhu cầu của mình, họ sẽ đưa ra yêu cầu tương ứng. Yêu cầu tương tự lặp đi lặp lại nhiều lần ở những đối tượng cụ thể khác nhau. Nhu cầu đọc có liên quan mật thiết với hoạt động chủ đạo của chủ thể đọc. Nếu hoạt động chủ đạo của chủ thể đọc là học tập thì các loại tài liệu được quan tâm, lựa chọn thường liên quan và hỗ trợ cho chương trình đào tạo của họ, như giáo trình, sách hướng dẫn học tập, tài liệu tham khảo...Tuy nhiên, nếu đi vào cụ thể thì trong một vài trường hợp đặc biệt, yêu cầu đọc không phản ánh nhu cầu mà xuất phát từ những yêu cầu công việc hoặc hoạt động đột xuất, chẳng hạn khi thực hiện bài tập của một học phần cụ thể, ở một thời điểm xác định nhất định [2, tr.69].

 
70200758 1096249490764260 8312988258871017472 n

Thói quen đọc và sở thích đọc
Thói quen đọc được định hình trong hoạt động đọc thông qua những hành vi tích cực và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong hoạt động của mỗi con người. Thói quen đọc không tự dưng sinh ra mà nó được hình thành thông qua quá trình sống, học tập, rèn luyện, tu dưỡng của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, mặc dù không phổ biến nhưng thói quen đọc cũng có thể bắt nguồn từ nguyên nhân tình cờ hoặc do bị ảnh hưởng từ cá nhân khác, nhóm hoặc cộng đồng trong xã hội. Còn sở thích đọc là sự hứng thú, thái độ yêu thích riêng của chủ thể đối với việc đọc. Sở thích đọc phụ thuộc vào mỗi cá nhân cụ thể. Thông thường mọi người hay thích đọc sách lúc rảnh rỗi sau một ngày làm việc, học tập căng thẳng hoặc khi cần nghiên cứu phục vụ cho một mục đích cụ thể. Tuy nhiên, tùy vào tính cách, điều kiện sống, môi trường, công việc... mà mỗi người sẽ có những sở thích đọc không giống nhau. Có người thích đọc truyện, có người thích đọc thơ, có người thích đọc tin tức... Điều này cũng tạo lên sự đa dạng, phong phú trong thói quen và nhu cầu đọc cụ thể của mỗi cá nhân.

Thói quen đọc biểu hiện qua tần suất đọc và việc dành nhiều thời gian cho việc đọc. Thói quen đọc ổn định sẽ tạo nên nhu cầu đọc thường xuyên. Từ thói quen sẽ dẫn đến sở thích, đam mê đọc và thông qua quá trình đó tạo dựng kĩ năng lựa chọn tài liệu đọc và hình thành phương pháp đọc...Vì vậy, việc khơi dậy và tạo thói quen đọc bền vững chính là mục đích cao nhất của phát triển văn hóa đọc. Như vậy, thói quen đọc hay sở thích đọc là một hoạt động hay mối quan tâm của con người liên quan đến việc đọc sách, báo, tài liệu có tính chất lặp lại nhiều lần trong thời gian rảnh rỗi nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của bản thân. Bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau nên mỗi người hình thành lối sống, thói quen và sở thích riêng rất khác nhau và việc thay đổi những thói quen của một con người không hề đơn giản. Có những thói quen được hình thành từ hứng thú về một hoạt động nào đó hay từ những sở thích của bản thân - và thói quen đọc sách cũng vậy. Có những thói quen đọc sách bắt nguồn từ việc đọc sách thường xuyên trong thời gian dài ví dụ như một ngày luôn giành một thời gian nhất định đề đọc sách hay từ sự yêu thích đọc một loại sách nhất định như truyện tranh, tiểu thuyết, sách văn học, sách về khoa học viễn tưởng, … Qua đó nhận thấy, nhu cầu đọc và sự yêu thích đọc là nhân tố kích thích hoạt động đọc làm cho hoạt động đọc trở lên hiệu quả cao.

Trong thời đại cách mạng công nghệ đang phát triển bùng nổ, giới trẻ nói chung, SV nói riêng được tiếp cận nhiều loại hình truyền thông đa phương tiện nên có xu hướng trở nên “lười” đọc sách, các thư viện cũng vì thế mà trở lên không còn “nhộn nhịp”, vắng bóng SV hơn. Bạn đọc có xu hướng tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, ngắn gọn, dễ hiểu thay vì ngồi đọc, nghiền ngẫm suy nghĩ, ghi chép thông tin. Do đó, việc hình thành thói quen đọc, sở thích đọc cần được rèn luyện không chỉ trong môi trường giáo dục gia đình, nhà trường mà rất cần sự quan tâm của  các thư viện.

Kỹ năng đọc là khả năng vận dụng năng lực cá nhân của chủ thể đọc vào quá trình đáp ứng nhu cầu đọc. Nó là phương thức giúp người đọc tiếp nhận thông tin nhanh nhất và là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động đọc của mỗi cá nhân. Vì vậy, cùng với nhu cầu đọc, thói quen và sở thích đọc, kỹ năng đọc là yếu tốt quan trọng trọng cấu thành văn hóa đọc. Thậm chí, có quan điểm còn cho rằng: Kỹ năng đọc là thành tố quan trọng nhất trong cấu trúc văn hóa đọc, là khả năng hiểu, lĩnh hội và cảm thụ tác phẩm, biến tri thức, kinh nghiệm trong sách thành tri thức, kinh nghiệm của bản thân để có thể vận dụng một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo trong khi tiến hành các hoạt động sống khác nhau [4, tr.112-117]. Kỹ năng đọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tri thức, kinh nghiệm, năng lực, mục đích đọc của mỗi cá nhân... Trong đó, mục đích đọc là yếu tố quan trọng định hướng việc lựa chọn phương pháp đọc phù hợp với yêu cầu đọc. Qua đó sẽ giúp người đọc quản lý được thời gian đọc sách, tránh hiện tượng đọc tràn lan, tốn công sức và không hiệu quả.

Chuẩn mực ứng xử đối với tài liệu đọc. Chuẩn mực ứng xử là hành vi giao tiếp và đối nhân xử thế. Nó thể hiện mức độ học vấn và nhận thức của mỗi cá nhân. Tài liệu đọc là sản phẩm của văn hoá, cần được ứng xử có văn hoá. Chuẩn mực ứng xử với tài liệu được thể hiện ở thái độ, hành động của người đọc đối với tài liệu trong quá trình đọc. Nó phụ thuộc mức độ nhận thức, tính cách của mỗi người đọc, thông thường được biểu hiện qua việc trân trọng, gìn giữ tài liệu, biết cách sử dụng, khai thác tài liệu đúng mục đích và bảo quản tài liệu, không làm hư hỏng tài liệu... Những yếu tố này tạo ra sự đa dạng, phong phú, cho văn hoá đọc của mỗi xã hội trong từng thời kì khác nhau. Trong quá trình học tập, nghiên cứu, SV phải thường xuyên tiếp xúc, sử dụng, tra cứu tài liệu. Thói quen đọc của mỗi SV tác động không nhỏ đến thái độ và hành vi của họ đối với tài liệu đọc. Do đó, bên cạnh việc hình thành, xây dựng thói quen đọc, mỗi SV cần ý thức và có thái độ ứng xử văn hóa với tài liệu đọc.  Hơn thế nữa, mục đích cuối cùng của phát triển văn hoá đọc là phát triển thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc cho mọi thành viên trong xã hội. Những yếu tố này là cơ sở để người đọc xây dựng chuẩn mực ứng xử với tài liệu đọc, từ đó hình thành giá trị, chuẩn mực đọc của mỗi nhà trường, cộng đồng, xã hội và quốc gia dân tộc. Vì vậy, việc phát triển đồng đều những yếu tố trên chính là góp phần phát triển văn hóa đọc. 

 
69179149 1099924063730136 6004867667154960384 n

2. Thực trạng văn hóa đọc của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Để đánh giá khách quan thực trạng văn hóa đọc của SV trường ĐHNVHN, bên cạnh phương pháp quan sát, tìm hiểu các phòng đọc, phòng chức năng khác tại TTTTTV, tác giả đã tiến hành khảo sát bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Trong đó, tổng số phiếu phát ra là 300 phiếu, tổng số phiếu thu về là 300 phiếu, đạt 100% trên tổng số phiếu phát ra. Tác giả thực hiện khảo sát SV đang khai thác thông tin tại TTTTTV trường ĐHNVHN. Trên cơ sở thống kê số liệu khảo sát được, bằng việc mô tả, phân tích, tổng hợp, kết quả phản ánh, đánh giá thực trạng văn hóa đọc của sinh viên trường ĐHNVHN như sau:

2.1. Nhu cầu đọc tài liệu của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Sinh viên trường ĐHNVHN có nhu cầu nội dung tài liệu liên quan đến cơ bản mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Theo số lượng thống kê cho thấy, SV có mức độ thường xuyên đọc các tài liệu liên quan đến môn học rất cao (chiếm tỷ lệ 89%), tiếp theo là tỷ lệ đọc thường xuyên các tài liệu liên quan đến đề tài NCKH (chiếm 46,7%). Các tài liệu về tin tức thời sự, chính trị, an ninh, giáo dục, thể thao, kinh tế, … cũng được SV quan tâm nhưng ở phần lớn ở mức độ thỉnh thoảng đọc. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát ở còn phản ánh có 56% SV sử dụng thư viện phục vụ nhu cầu học tập. Tuy nhiên thực tiễn kết quả khảo sát cho thấy phản hồi của SV về mức độ đáp ứng nhu cầu tài liệu với nhu cầu thông tin của bản thân người đọc thì thấy phần lớn chưa đáp ứng được nhu cầu của SV. Nhìn chung, nhu cầu đọc của SV trường ĐHNVHN đối với tài liệu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau có tỷ lệ khá cao, đều đạt trên 60% trở lên, ngoại trừ một số lĩnh vực như, ngoại ngữ-tin học và giải trí, nghệ thuật. Đây đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi kích thích phát triển văn hoá đọc cho SV nhà trường.

Trường ĐHNVHN là một trường đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Hiện tại, trường đang có hơn 10 chuyên ngành đào tạo trình độ đại học, như: Quản trị nhân lực, lưu trữ học, quản trị văn phòng, quản lý văn hóa, luật hành chính, thông tin thư viên, hệ thống thông tin, khoa học chính trị, quản lý nhà nước…Mỗi chuyên ngành đều có những đặc thù, yêu cầu riêng. Do đó, SV nhà trường ngoài việc nắm bắt thông tin cơ bản trong giáo trình, cần bổ sung các nguồn tài liệu khác nhằm đáp ứng nhu cầu tin của mình sao cho phù hợp với chuyên ngành đào đạo và lĩnh vực mình quan tâm nghiên cứu. Số liệu khảo sát cho thấy mức độ thường xuyên sử dụng các loại tài liệu như sách tham khảo (chiếm 67,4%), báo, tạp chí (chiếm 40%), giáo trình, bài giảng (chiếm 60,7%), tài liệu tra cứu (chiếm 58,3%). Đây là các loại tài liệu chứa nhiều nội dung phù hợp với môn học, SV dễ dàng tìm kiếm và khai thác tại thư viện. Trong đó có khoảng 58% SV không thường xuyên sử dụng loại tài liệu này, 36% đã sử dụng và thích khai thác loại tài liệu này, còn 6% còn lại là không thích sử dụng.

Trường ĐHNVHN đang trên đà phát triển và mở rộng các quan hệ hợp giáo dục đại học với nhiều quốc gia trong khu vực và quốc tế. Khảo sát cho thấy 100% SV thường xuyên có thói quen đọc các tài liệu có ngôn ngữ quen thuộc như tài liệu Tiếng Việt và tài liệu Tiếng Anh (chiếm 13,3%). Ngoài ra, thỉnh thoảng SV sử dụng thêm các loại ngôn ngữ khác như Tiếng Nhật (9,36%), Tiếng Hàn (13,6%), Tiếng Trung (11,4%). Sở dĩ có hiện tượng này, là do có một số ít SV chủ động học thêm một ngoại ngữ khác (vì yêu thích hoặc vì họ định hướng công việc trong tương lai cần sử dụng) nên họ vận dụng những ngôn ngữ này trong việc đọc tài liệu. 

 
121603916 1477258189330053 7622588440991012421 n

2.2. Thói quen đọc và sở thích đọc tài liệu của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
* Thói quen đọc. Có thể dễ dàng nhận thấy, địa điểm đầu tiên SV nghĩ và muốn đến khi tìm kiếm tài liệu học tập, nghiên cứu, nhất là các tài liệu khoa học là các thư viện và trung tâm tư liệu. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra khảo sát của chúng tôi, SV không chỉ lựa chọn tìm kiếm tài liệu tại các thư viện  mà còn tìm kiếm ở các nơi lưu trữ tài liệu khác. Số liệu thống kê trên cho thấy SV thường xuyên đến đọc ở TTTTTV trường chiếm 50,7%, tủ sách cá nhân chiếm 49,3% và đọc tại nhà chiếm 61,7%. Đây là các địa điểm SV sử dụng để đọc sách nhiều hơn so với các nơi khác như Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Hà Nội … 

Về cơ bản, thư viện vẫn luôn là lựa chọn tốt nhất cho SV trong việc hỗ trợ học tập. Tuy nhiên, hiện nay khi cần tìm kiếm thông tin, người đọc có thể lựa chọn trên các phương tiện khác nhau. Thống kê SV tìm kiếm thông tin trên mạng internet chiếm số lượng nhiều nhất 43%, thư viện là sự lựa chọn thứ hai của SV chiếm 32%, cho thấy sự bùng nổ mạng internet toàn cầu giúp SV có nhiều lựa chọn hơn trong việc thỏa mãn nhu cầu tin. Khảo sát mức độ truy cập internet của SV như sau: tỷ lệ SV sử dụng mạng internet như một thói quen hàng ngày lên đến 91%. Không có SV nào không sử dụng internet, hoặc tần suất từ một tháng trở lên. SV sử dụng internet để khai thác hầu hết mọi lĩnh vực nhưng chủ yếu là tìm tài liệu chiếm 18%, đọc sách, truyện chiếm 15%, đọc tin tức chiếm 15%, nghe nhạc chiếm 14%, %,… Các tỷ lệ này sấp xỉ gần bằng nhau, chứng tỏ để thu thập bất kỳ thông tin nào, SV cũng có thể sử dụng các phương tiện có kết nối internet. 

Thói quen đọc sách, cách lựa chọn sách và kỹ năng đọc góp phần tạo thành văn hoá đọc cho SV. Thông qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy, SV có thói quen thường xuyên sử dụng internet ở nhà có tỷ lệ cao 91%, tiếp theo là việc đọc sách báo ở nhà chiếm 61,7% và tiếp đến là đọc sách ở thư viện là 36,7%, và một số hoạt động khác. Ngoài ra, SV thỉnh thoảng tham gia một số hoạt động khác như nghe đài, xem tivi, tham gia các câu lạc bộ, đi hiệu sách,… cũng chiếm số lượng đáng kể. Thực tiễn khảo sát cho thấy, thời lượng dành cho đọc sách mỗi ngày của SV không giống nhau. Số SV dành từ 1 đến 2 giờ cho việc đọc sách hàng ngày chiếm tỷ lệ cao nhất 46%, tiếp đến từ 2 đến 3 giờ là 28 %, 16% SV đọc sách từ 3 đến 4 giờ và một số SV dành nhiều thời gian hơn. Bên cạnh đó, SV cần tạo thói quen đọc sách vào những thời điểm mà thể chất và tinh thần được đảm bảo đầy đủ nhất. Khảo sát cho thấy phần lớn SV thường đọc sách vào buổi tối chiếm 38% và buổi sáng 26% - đây là những khoảng thời gian này được đánh giá là hiệu quả cho việc học tập, nghiên cứu cho SV. 

* Sở thích đọc. Số liệu thống kê cho thấy SV lựa chọn tài liệu nhằm phục vụ chủ yếu cho học tập, nghiên cứu chiếm 31,3%, các yếu tố ảnh hưởng khác như đọc sách vì được người khác giới thiệu chiếm 17,3%, sách của của tác giả yêu thích là 16%. SV khá quan tâm những tác phẩm từng đoạt giải thưởng và được đăng tải trên báo chí, truyền hình (tỷ lệ SV lựa chọn sách của các tác giả nổi tiếng chiếm 11,3% và của Nhà xuất bản nổi tiếng là 4,6%). Bên cạnh đó SV bị thu hút bởi những cuốn sách giảm giá (chiếm 9%). Hiện nay, các loại sách lậu xuất hiện với giá bán rẻ hơn so với sách chính thống từ 40% đến 50%, một quyển sách nổi tiếng số lượng bản in lậu nhiều gấp mấy lần bản chính thống. Vì thu nhập còn hạn chế hoặc bị phụ thuộc vào gia đình, SV dễ bị hấp dẫn bởi giá thành khi mong muốn được sở hữu cuốn sách mà mình yêu thích mà không tốn nhiều chi phí. Cũng theo thống kê, tỷ lệ SV đọc tài liệu do cảm thấy bổ ích và phù hợp với bản thân chiếm 40,3% và để phục vụ môn học chiếm 30.3%. Điều này cho thấy, SV đặt ưu tiên việc đọc phục vụ học tập nhằm tăng cường thu nhận những kiến thức bổ ích, mang lại kết quả cao trong học tập. Bên cạnh đó, có 20,3% SV đọc sách phục vụ cho việc thư giãn, giải trí sau những giờ học căng thẳng trên lớp. Như vậy, SV đọc sách không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập mà còn để thỏa mãn sở thích cá nhân, khi được thỏa mãn thì sẽ làm tăng hứng thú đọc.

 
122016894 1483111092078096 8103482557350468121 n

2.3. Kỹ năng đọc của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Kỹ năng đọc có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả đọc sách của mỗi cá nhân. Các phương pháp đọc sách bao gồm đọc lướt qua, đọc từng phần, đọc toàn bộ nhưng không nghiên ngẫm, đọc nghiên ngẫm nội dung cuốn sách, đọc chủ động, đọc thụ động, đọc nông, đọc sâu,… Kết quả khảo sát hiển thị trên biểu đồ cho thấy, SV có thói quen chỉ đọc lướt qua nội dung chiếm khá cao (44.7%), sau đó đến đọc lần lượt từ đầu đến cuối (41,3%). Ngoài xác định phương pháp đọc sách, SV cần phải rèn luyện các thao tác đọc như tập trung đọc, tích cực tư duy, tốc độ đọc, tư thế đọc, dụng cụ ghi chép, … trong đó tư thế đọc của SV được thể hiện rõ nhất. Thống kê số liệu cho thấy, đối với hình thức đọc sách tại nhà, SV có thói quen ngồi đọc sách tại bàn học, máy tính chiếm 52,3%, trong khi tại nơi công cộng chỉ chiếm 32,6%. Sở dĩ có sự khác nhau này do môi trường tại nhà có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, còn tại những địa điểm công cộng như hiệu sách, sạp báo hay đến cả thư viện những lúc đông SV cũng không có chỗ ngồi đọc. Cũng chính vì lẽ đó mà tỷ lệ SV đọc sách không sử dụng bàn học tại những nơi công cộng chiếm tỷ lệ cao (48,4%) và đứng đọc là 18,3%. Bên cạnh đó, một tư thế đọc sách tại nhà của SV cũng được sử dụng khá nhiều đó là nằm đọc sách chiếm 33%. Bởi đây là địa điểm thân thuộc, mọi hoạt động của SV được diễn ra thoải mái, không bị gò bó bởi bất cứu quy định nào. Tuy nhiên nếu sử dụng tư thế đọc thường xuyên sẽ ảnh hưởng đến thể chất, sức khỏe của người đọc (mắt, cột sống, …) và làm giảm hiệu quả đọc sách (tư duy, trí nhớ, …). Đồng thời, có 42% SV sau khi đọc sách chia sẻ với bạn bè, 22,3% chia sẻ với người thân trong gia đình, và 21% SV chia sẻ với thầy cô giáo. 

2.4. Chuẩn mực ứng xử của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội đối với tài liệu
Kết quả khảo sát cho thấy 42% SV nghe nhiều đến văn hóa đọc, 52% đã từng nghe qua và 6% SV chưa từng nghe đến vấn đề này. Số liệu thống kê cũng cho thấy phần lớn SV có nhận thức đúng về  văn hóa đọc : 21,7% SV cho rằng văn hóa đọc là cách thức lựa chọn tài liệu đọc phù hợp với nhu cầu của mình, 27,3% định nghĩa văn hóa đọc là thói quen đọc sách/báo/hàng ngày, 17% SV có quan điểm văn hóa đọc là cách thức tìm kiếm thông tin, tri thức từ sách, báo, tài liệu và quan trọng hơn là cách thức vận dụng tri thức đọc được vào cuộc sống cũng chiếm 15%,3. Bên cạnh đó, phần lớn SV đánh giá việc đọc sách giúp cung cấp kiến thức cho học tập chiếm 35%, cung cấp kiến thức và thông tin xã hội chiếm 22,3%, cung cấp kiến thức về kỹ năng sống chiến 17,7% và mang lại những khoảng thời gian thư giãn, giải trí là 21%. SV thường xuyên giới thiệu sách báo cho người khác đọc chiếm tỷ lệ 48%, một số SV thường xuyên được người khác giới thiệu sách để đọc chiếm 36% hay cho ngưới khác mượn sách, báo mình đã đọc chiếm 22%. Đặc biệt, 68% SV thỉnh thoảng tặng sách, báo cho ngưới khác, 72% SV thỉnh thoảng cho người khác mượn.

Ngoài ra, kết quả khảo sát về thói quen sử dụng sách của SV trường ĐHNVHN cho thấy: số lượng SV có thói quen gấp, đánh dấu nội dung hay và quan trọng trong khi đọc sách chiếm 54,6%, còn 22,4%SV thường ghi chép lại các nội dung hay và quan trọng, số còn lại không làm gì trong quá trình đọc chiếm 19,3%; 31,3% SV có thói quen sắp xếp tài liệu thành các chủ đề riêng, còn phần lớn SV không thực hiện điều này chiếm 68,7%. Phần lớn SV có thói quen đọc sách xong cất vào vị trí riêng chiếm 45%, còn 31,7% SV trả lại thư viện và cho người khác mượn lại chiếm 16,3%, đọc xong tiện đâu bỏ đó (chiếm 4,3%) và dùng xong bỏ đi (chiếm 2,7%) là những hành động cần tránh đối với tài liệu. Đây cũng là một cách thể hiện văn hóa đọc, văn hóa ứng xử với tài liệu. Vì thế, sau khi đọc xong, SV phải có trách nhiệm bảo vệ và sử dụng hiệu quả.. Bởi bất kỳ tài liệu nào đều là sản phẩm của trí tuệ con người, của khoa học và xã hội, nó có giá trị sử dụng vô hạn. Vì vậy, bản thân mỗi người cần phải quý trọng nguồn tri thức đó, thể hiện thái độ ứng xử với tài liệu một cách có văn hóa.

2.5. Mức độ thỏa mãn nhu cầu đọc của sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Với các thư viện nói chung, sản phẩm và dịch vụ thông tin đóng vai trò là cầu nối giữa các cơ quan này và cán bộ thư viện với bạn đọc. Với nguồn lực thông tin phong phú, loại hình đa dạng, TTTTTV của trường đã đảm bảo tương đối hoạt động hỗ trợ nguồn học liệu cho SV. Số liệu thống kê cho thấy 52% SV có đánh giá thư viện cung cấp đầy đủ tài liệu theo nhu cầu, 6% nhận xét vốn tài liệu rất đầy đủ. Tuy nhiên, vẫn có một số lượng đáng kể SV có nhận xét thư viện chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tài liệu cho họ (chiếm 30,3%), thậm chí rất thiếu(11,7%). Trong đó, 78% SV nhận xét phù hợp, 16 đánh giá rất phù hợp, còn 6% đánh giá chưa phù hợp. Vì vậy, % SV cho rằng rất cần bổ sung thêm tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu và 32% góp ý cần thiết phải thực hiện công tác bổ sung này. Bởi điều quan trọng nhất đối với SV chính là nguồn tài liệu, là cơ sở cho việc tiếp xúc với tri thức khoa học chuyên ngành và vận dụng vào đời sống xã hội.

Theo khảo sát cho thấy các loại dịch vụ SV thường xuyên sử dụng tại thư viện bao gồm đọc tài liệu tại chỗ chiếm 75,3%, 46,8% SV thường tra cứu OPAC và 31,7% SV thường xuyên sao chụp tài liệu. Ngoài ra, Trung tâm còn phát triển các loại hình dịch vụ thư viện khác nhưng phần lớn SV không sử dụng thường xuyên như số hóa tài liệu (12,7%), cung cấp thông tin theo yêu cầu (6,3%), các hoạt động giới thiệu sách (10,3%). Tuy nhiên, con số thống kê sau không khỏi khiến chúng ta phải suy nghĩ: SV chưa bao giờ tham gia các hoạt động giới thiệu sách, Hội nghị bạn đọc, triển lãm sách… chiếm 78%. Như vậy, hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách cũng như phổ biến thông tin của Trung tâm chưa thu hút được đông đảo bạn đọc tham gia. Hầu hết SV chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tham gia hoạt động liên quan đến tìm hiểu, tuyên truyền, giới thiệu sách tại thư viện. Bên cạnh đó, khảo sát cụ thể về việc mượn tài liệu tại thư viện của SV có nhận được kết quả như yêu cầu hay không? Kết quả cho thấy 71,7% SV trả lời có nhiều lần bị từ chối khi mượn tài liệu tại thư viện, còn 28,3% có ý kiến là không bị từ chối. Phần lớn SV không mượn được tài liệu là bởi trong kho không có tài liệu chiếm 46,3% và tài liệu đã có người mượn trước đó là 41,7% hay tài liệu chưa kịp xử lý nghiệp vụ trước khi đưa ra phục vụ chiếm 5% và trường hợp bị mất chiếm 2,7%.  Qua đó, cho thấy nhu cầu rất cần được đào tạo tra cứu thông tin trên máy tính điện tử chiếm 36,7% cao hơn so với nhu cầu tra tìm thông tin theo phương pháp truyền thống và phần lớn SV đều có nhu cầu hướng dẫn tra cứu cả hai loại hình này (nhu cầu cần đào tạo cả hai loại hình là 67,3 và 55%). 

Khảo sát cho thấy 68,3% SV cho rằng trước hết thư viện rất cần bổ sung thêm vốn tài liệu phục vụ nhu cầu đọc của họ, sau là hiện đại hóa thư viện, tăng cường công nghệ thông tin ứng dụng và các hoạt động của thư viện chiếm 56% và tăng cường cải thiện cơ sở vật chất đặc biệt là chỗ ngồi đọc cho SV tại thư viện là 52,7%. Điều này nhằm đảm bảo việc đáp ứng nhu cầu tài liệu, nhu cầu tra cứu thông tin và nhu cầu không gian thư viện của SV. Ngoài ra, vấn đề mà nhiều SV thấy cần thiết đó là được thư viện đào tạo phương pháp tra cứu, khai thác thông tin tại thư viện chiếm 53%. Để việc tìm kiếm thông tin cho kết quả như mong muốn, đòi hỏi SV phải có kỹ năng tìm tin, nắm được phương pháp tra cứu. Vấn đề này cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ của cán bộ thư viện. Do đó, cán bộ thư viện không chỉ là người cung cấp tài liệu cho SV mà còn là người chỉ dẫn SV trong quá trình sử dụng các dịch vụ tại thư viện, 28,3% SV đòi hỏi cán bộ thư viện cần chú trọng thái độ giao tiếp với bạn đọc nhằm mang lại cho bạn đọc cảm giác thân thiện và được giúp đỡ nhiệt tình.

 
69985964 1099923943730148 4869623908636033024 n

2.6. Đánh giá về thực trạng văn hóa đọc của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội
*  Ưu điểm: Trường ĐHNVHN đào tạo đa ngành đa lĩnh vực, hàng năm số lượng SV đào tạo trung bình tại Hà Nội ước tính khoảng 7.000 SV. Điều đó cho thấy nhu cầu dùng tin của SV rất cao và phong phú. Đặc biệt, hầu hết SV đều nhận thức được việc sử dụng thư viện là một hoạt động hỗ trợ, mang lại hiệu quả cho học tập và nghiên cứu. Nắm bắt được những đặc điểm này, TTTTTV đã xây dựng nguồn lực thông tin khá phong phú, đa dạng, chất lượng để đáp ứng hầu hết các chương trình đào tạo của nhà trường. Đồng thời, TTTTTV cũng không ngừng mở rộng, tăng cường trang thiết bị và đổi mới phương thức phục vụ nên đã thu hút lượng bạn đọc đến thư viện ngày càng cao; tổ chức thường niên các hoạt động liên quan đến sách như hội nghị, hội thảo bạn đọc, tọa đàm về sách, triển lãm sách, giới thiệu sách … của TTTTTV cũng tạo môi trường, cơ hội cho SV được giao lưu, trao đổi những quan tâm, tìm hiểu về sách. Với nguồn học liệu này, SV được thỏa mãn nhu cầu tin, có hứng thú sử dụng thư viện, và hình thành những thói quen đọc hiệu quả đồng thời đã hình thành và ý thức được tầm quan trọng của sách đối với việc học tập của mình, hiểu được giá trị của những cuốn sách mang lại. Từ đó, sinh viên có ý thức giữ gìn, bảo quản sách cẩn thận, sắp xếp sách ngăn nắp. Đó là thái độ tôn trọng giá trị của những cuốn sách.

* Hạn chế: Một bộ phận không nhỏ SV thường xuyên sử dụng internet là phương tiện tra cứu thông tin, thỏa mãn nhu cầu dùng tin của mình mà “quên” đi sách in. Thêm vào đó, nguồn tài liệu của TTTTTV còn nghèo nàn, chưa đầy đủ các tài liệu chuyên ngành, mang nặng tính truyền thống. Ngoài ra, các dịch vụ thông tin thư viện của Trung tâm cũng còn nhiều hạn chế: các hình thức tiếp cận bạn đọc còn yếu và chưa phù hợp, chưa thân thiện và không tập trung, sử dụng một số phương pháp công tác bạn đọc còn chưa đúng tình hình và đối tượng. Việc tiếp xúc, đối thoại bạn đọc còn nhiều lúng túng. Một số cán bộ chưa nắm vững chuyên môn nghiệp vụ thái độ phục vụ, trợ giúp SV còn chưa nhiệt tình. Cơ sở vật chất của TTTTTV còn hạn chế. Nhiều SV chưa có thói quen đọc sách hàng ngày, chưa có kỹ năng tìm kiếm tài liệu, khai thác nội dung tài liệu do đó không nhận được kết quả như mong muốn. Sinh viên chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đọc sách, và giá trị của sách mang lại. Vẫn còn hiện tượng SV chưa có ý thức giữ gìn tài liệu, thói quen sắp xếp tài liệu chưa khoa học và bảo quản tài liệu chưa đúng cách gây tổn hại đến tài liệu. Bên cạnh đó, một số bộ phận giảng viên cũng chưa sát sao trong việc hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu, chưa định hướng cho SV trong việc đọc và tìm kiếm thông tin tư liệu để phục vụ cho môn học hiệu quả lớn. Điều này, cũng ảnh hưởng đến chất lượng đọc của SV. 

* Nguyên nhân: Thứ nhất, chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện chưa đảm bảo và đáp ứng nhu cầu đọc của sinh viên; Thứ hai, Cơ sở vật chất, không gian của thư viện chưa đáp ứng được yêu cầu của người đọc. Các quy định của thư viện cần được nghiên cứu và thay đổi phù hợp với phương thức đào tạo và quá trình học tập, nghiên cứu của SV. Từ đó tạo điều kiện cho SV khai thác nguồn tài liệu tại thư viện một cách dễ dàng, thoải mái và hiệu quả; Thứ ba, kỹ năng đọc sách của mỗi người được hình thành từ khi bắt đầu biết đọc, biết viết, tuy nhiên việc giáo dục, hướng dẫn kỹ năng đọc chưa được cha mẹ và thầy cô quan tâm, bạn bè hỗ trợ phù hợp; Thứ tư, nguyên nhân chính và quan trọng nhất ảnh hưởng đến văn hóa đọc của SV hiện nay là nhận thức của bản thân mỗi SV về vấn đề này vẫn chưa thực sự đúng đắn và hiểu sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của văn hóa đọc đối với việc học tập, nghiên cứu của mỗi bản thân sinh viên.

 
70200758 1096249490764260 8312988258871017472 n

3. Giải pháp phát triển văn hóa đọc của sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Thứ nhất, ban hành chính sách cụ thể để phát triển văn hóa đọc trong nhà trường. Để phát triển văn hóa đọc cho SV không thể thiếu những chính sách cụ thể, phù hợp của nhà trường dành cho nó. Cụ thể, đó phải là một hạng mục chi tiêu chính thức và tương đối lớn trong ngân sách nhà trường, quy định rõ ràng mức chi bao nhiêu % từ kinh phí của Nhà nước, bao nhiêu % từ các nguồn kinh phí khác để đầu tư cho TTTTTV. Trong đó, dành khoảng bao nhiêu % ngân sách giáo dục của nhà trường cho nguồn tài liệu và các bộ sưu tập khác của TTTTTV, nhất là khi nhà trường tiến tới tự chủ trong thời gian tới. Đồng thời, nhà trường và TTTTTV nên có kế hoạch cụ thể xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức của đơn vị này. Tạo điều kiện cho họ tham gia các khóa tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học trong và ngoài nước để lĩnh hội những kiến thức mới, nắm bắt xu hướng hội nhập trong khu vực và trên thế giới; xem xét và thực hiện đầy đủ chế độ chính sách đãi ngộ đối với cán bộ thư viện; nhà trường triển khai những buổi làm việc, quán triệt chung các chủ trương, chính sách trên cho toàn thể các đơn vị thuộc và trực thuộc trường, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường.

Thứ hai, thực hiện các biện pháp cụ thể để phát triển văn hóa đọc cho sinh viên. Để phát triển văn hóa đọc cho SV nhà trường, cần phải có những biện pháp rất cụ thể đòi hỏi sự chung tay, phối hợp chặt chẽ của tất cả các đơn vị trong trường, đặc biệt là các Khoa chuyên môn, các phòng chức năng liên quan trực tiếp tới SV. Căn cứ vào thực trạng văn hóa đọc của SV trường ĐHNVHN và điều kiện phát triển hiện tại của Nhà trường, chúng tôi  cho rằng để xây dựng và phát triển văn hóa đọc cho SV, Nhà trường cần triển khai thực hiện ngay một số biện pháp như: 1) Tuyên truyền nâng cao nhận thức của SV về tự học, tự nghiên cứu; 2) Phát triển năng lực giảng dạy cho giảng viên theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học để hình thành văn hóa đọc cho SV; 3) Chỉ đạo giảng viên phát triển kỹ năng đọc sách cho SV thông qua hoạt động giảng dạy, hướng dẫn NCKH; 4) Tăng cường quản lý việc thiết kế và tổ chức dạy học theo hướng phát huy vai trò tự học, tự nghiên cứu của SV; 5) Xây dựng TTTTTV thân thiện tạo môi trường thuận lợi thu hút SV đọc sách; 6) Nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhà trường trong việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc; 7) Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả tự học, tự nghiên cứu của SV. Mỗi biện pháp nêu trên đều đóng vai trò và có ý nghĩa riêng. Chúng quan hệ mật thiết, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau. Văn hóa đọc của SV sẽ phát triển cũng như hoạt động quản lý hoạt động tự học sẽ đạt hiệu quả khi nhà trường vận dụng linh hoạt, mềm dẻo đồng bộ 7 biện pháp này. 

Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về văn hóa đọc. Để phát triển văn hóa đọc cho SV, trường ĐHNVHN cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền văn hóa đọc. Công tác tuyên truyền văn hóa đọc có thể được thực hiện với nhiều hình thức và nội dung khác nhau nhưng đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ của các đơn vị, đoàn thể trong trường, nhất là Đoàn thanh niên với vai trò tiên phong. Đặc biệt, đòi hỏi có sự ủng hộ tích cực và có hiệu quả từ phía Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường. Cụ thể: Nhà trường cần tăng cường tổ chức thường xuyên và đổi mới các hình thức tuyên truyền như: Hội nghị bạn đọc; hưởng ứng mạnh mẽ “Ngày văn hoá đọc và ngày hội sách thế giới 24/3” hàng năm, TTTTTV, Đoàn thanh niên phối kết hợp với các khoa chuyên môn cần tích cực tổ chức các hoạt động hữu ích với nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau, như: Triển lãm sách, giới thiệu sách, bình sách, quyên góp sách, thi kể chuyện theo chuyên đề, tổ chức các cuộc thi đọc sách... với các giải thưởng nhất định, nhằm khuyến khích, thu hút SV tham gia đông đảo và thúc đẩy thói quen đọc sách trong SV;  Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên để, giao lưu SV toàn trường, nhằm trao đổi về các kỹ năng tự học, phương pháp đọc sách, cách thu nhận và sử dụng tri thức vào thực tế có hiệu quả...Bên cạnh đó, Câu lạc bộ sách của SV cũng cần được quan tâm hỗ trợ và đổi mới hoạt động nhằm thu hút nhiều thành viên tham gia và phát huy sự yêu thích của bạn đọc. Điều này sẽ tạo môi trường thuận lợi cho phát triển văn hóa đọc tại nhà trường.

Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm Thông tin thư viện. Trung tâm Thông tin thư viện là nơi cung cấp thông tin quan trọng, là nền tảng bền vững cho thúc đẩy phát triển văn hóa đọc, tạo điều kiện thuận lợi cho SV nhà trường phát triển toàn diện, đặc biệt là tư duy sáng tạo, góp phần tích cực trong hỗ trợ trường ĐHNVHN hoàn thành sự nghiệp đào tạo nguồn nhân cho ngành Nội vụ và cho xã hội. Thực hiện sứ mệnh này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của TTTTTV của nhà trường. Cụ thể: Một là, tăng cường bổ sung vốn tài liệu đáp ứng về loại hình, số lượng và nội dung; Hai là, tăng cường sự liên kết và chia sẻ nguồn lực thông tin; Ba là, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện; Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức của Trung tâm Thông tin thư  viện.
  
Thứ năm, các giảng viên cần có những định hướng đọc rõ ràng cho sinh viên. Để làm tốt vai trò định hướng đọc rõ ràng cho SV, các giảng viên cần xây dựng kế hoạch hướng dẫn SV phương pháp đọc giáo trình, sách, tài liệu tham khảo cũng như cách đọc sách, báo nói chung. Trong đó nêu rõ kĩ thuật đọc hiệu quả, cách duy trì hứng thú đọc, cách sử dụng kết quả đọc, cách lập thư mục tài liệu tham khảo…Bên cạnh việc định hướng SV đọc các nội dung để phụ vụ hoạt động học tập trên lớp, giảng viên cũng cần coi trọng việc định hướng, giao nhiệm vụ, hướng dẫn SV đọc tài liệu ở nhà hoặc khi phải làm các bài tập lớn, tiểu luận. Cụ thể, ứng với từng chương, từng phần kiến thức trong chương trình hay theo các chủ đề của bài tập lớn, tiểu luận SV được giao, giảng viên định hướng SV cần đọc những tài liệu gì, ở mức độ nào để củng cố, mức độ nào để mở rộng, mức độ nào để nâng cao kiến thức…Bên cạnh đó, giảng viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy gắn liền với việc phát triển văn hóa đọc của sinh viên.

Thứ sáu, các sinh viên phải nghiên cứu và nắm vững chương trình đào tạo, cũng như các qui chế liên quan của nhà trường. Thông qua sổ tay SV, SV sẽ biết được trình tự thời gian thực hiện các học phần; nội dung yêu cầu của phần kiến thức giáo dục đại cương và phần kiến thức giáo dục chuyên nghiệp để có thể có đăng ký lịch học phù hợp với từng học kỳ (phù hợp ở đây với nghĩa là, thích hợp với quy định của nhà trường và sức học của SV). Trên cơ sở đó, SV phải tăng cường tính tự chủ và sáng tạo trong quá trình học tập, tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu về vấn đề đã được giảng viên định hướng, giao cho trước khi lên lớp. Hay nói cách khác, SV phải tăng cường đổi mới phương pháp học tập theo hướng tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của mình. SV phải tự học ngay trên lớp, lên lớp là làm việc thực sự, chứ không phải chỉ đi nghe giảng một cách thụ động. Ngoài ra, SV cũng cần chủ động, thường xuyên trau dồi các kỹ năng mềm, tích cực tham gia các hoạt động NCKH, tham gia các câu lạc bộ và hoạt động đoàn thể, xã hội. Những hoạt động này cũng hỗ trợ, giúp SV hoàn thiện bản thân, nâng cao nhận thức, vai trò của việc đọc sách nói riêng và việc phát triển văn hóa đọc nói chung cho SV.

Tài liệu tham khảo:


1. Đại bách khoa toàn thư Liên Xô (1969-1978), БольшаяРоссийскаяэнциклопедия, Nxb. Bách khoa toàn thư Xô viết.
2. Trần Văn Hà (2007), “Đẩy mạnh văn hóa đọc trong thời đại công nghệ thông tin”, Tạp chí thư viện số 1, tr.69.
3. Vũ Dương Thúy Ngà (2010), Biện pháp phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng ở Việt Nam, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 4, tr17-25.
4. Ninh Thị Kim Thoa (2006), Giáo dục người sử dụng trong thư viện đại học, Kỉ yếu hội nghị Thư viện Việt Nam hội nhập và phát triển, tr.112-117.
5. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP Hồ Chí Minh, tr.12.
6. Nguyễn An Tiêm (2006), Tọa đàm khoa học về văn hóa đọc của người Việt Nam, Văn hóa và đời sống xã hội, tr.34-37.
7. Nguyễn Hữu Viêm (2009), Văn hóa đọc và phát triển văn hóa đọc ở Việt Nam, Tạp chí Thư viện Việt Nam, số 1 (17), tr.19 -26
8. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin.


 

Tác giả bài viết: TS. Nguyễn Thị Ngọc Linh, Phó Trưởng khoa Khoa Pháp luật hành chính

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Sinh viên HuHa sẽ làm gì khi đi học trở lại

Kỷ niệm 7-5 (bên phải)
Thư viện điện tử
tra cứu văn bằng
Tra cứu đề tài
Số tay sinh viên
https://truongnoivu-csmn.edu.vn/
http://truongnoivu-csmt.edu.vn/
http://truongnoivu.edu.vn/

THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập59
  • Hôm nay1,436
  • Tháng hiện tại62,403
  • Tổng lượt truy cập1,502,995
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây